KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI VÀ KIẾN TRÚC LÀNG TRUYỀN THỐNG BẮC BỘ

Khí hậu nhiệt đới và kiến trúc làng truyền thống Bắc Bộ
Thế giới thứ ba đang còn giữ được truyền thống xây dựng nhà ở nông thôn hết sức hữuu hiệu, những kiến trúc này là kết quả xuất phát từ nền kinh tế và lối sống nông thôn đang còn là lối sống của đa số dân. Ở các kiến trúc đó, quan hệ môi trường - nhà ở có thể phân tích dễ dàng hơn nhiều so với các kiến trúc sinh ra trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp của các đô thị lớn phương Tây. 

Người Kiến trúc sư cần nghiên cứu, phát triển được các quan hệ phức tạp và phong phú giữa các kiến trúc đó với môi trường thiên nhiên (địa lý và khí hậu) để: 
- Sẽ thôi bắt chước một cách vô vị các đồng nghiệp phương Tây của mình; 
- Và sẽ có khả năng sáng tác những kiến trúc thật sự cảm xúc với các điều kiện đang chuyển biến của nền kinh tế của xã hội và nền khoa học kỹ thuật của nước mình. 

I. Quan hệ giữa khí hậu - kiến trúc và con người 

Mối quan hệ giữa “Khí hậu - Kiến trúc - Con người” là mối quan hệ biện chứng giữa 3 bộ phận hữu cơ với nhau để tạo dựng nên môi trường sống của con người. các học thuyết cổ xưa của phương Đông như “Tam tài” (Thiên - địa - nhân), “Âm dương ngũ hành”, “Phong thuỷ” đã làm nền tảng triết học để giải quyết mối quan hệ đó thông qua các giải pháp thiên văn địa lý. 
Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại có thể xem các học thuyết nói trên thuộc phạm trù “Sinh thái học vũ trụ”. Đó là khoa học về quan hệ biện chứng giữa con người và môi trường thiên nhiên. 
Còn giải quyết quan hệ giữa kiến trúc với thiên nhiên bao gồm các nội dung sau: 
- Kiến trúc sinh thái (Ecological Architecture) 
- Kiến trúc môi trường (Enviromental Architecture) 
- Kiến trúc hiệu quả năng lượng (Ennergy Officient Architecture) 
- Kiến trúc xanh (Green building); 
- Kiến trúc và khí hậu hay sinh khí hậu (Chimate Architecture). 
Trong đó quan hệ giữa kiến trúc và sinh khí hậu có vị trí quan trọng đặc biệt. 
Khi nói đến tác động của khí hậu đến kiến trúc có ý nghĩa quyết định cho việc hình thành bộ mặt kiến trúc, các châu lục cần phải nhắc đến câu nói bất hủ của Viruvius, một kiến trúc sư nổi tiếng trước công nguyên: “Các kiểu nhà có lẽ sẽ khác nhau nếu ở Ai Cập hay Tây Ban Nha, ở Pônte (bờ biển đen) hay Rôma và các vùng ở các nước có đặc điểm khí hậu khác nhau. Vì một phần trái đất nằm thẳng dưới đường đi của mặt trời, phần khác thì xa hơn và phần thứ 3 thì xa hẳn”. 
Những thành tựu khoa học hiện đại về mối quan hệ giữa khí hậu và kiến trúc hiện nay đã chứng minh chân lý đó, tiêu biểu là công trình: Victor Olgyay (Mỹ) về vấn đề tiếp cận sinh khí hậu vào kiến trúc (Bioclimatic Approach to Architecture). Một tác giả nổi tiếng khác trong lĩnh vực nghiên cứu này là Baruch Givonie (Do Thái Mỹ). Ngoài ra phải kể đến các tác giả: O. H. Koenigoberger (Anh); C.Correa (Ấn Độ) và gần đây là KTS Ken - Yeang (Malaysia). 
Các yếu tố thiên nhiên khí hậu thường xuyên tác động đến cơ thể con người và gây ra các cảm giác tương ứng, hoặc là thoải mái, hoặc là khó chịu. Cơ cấu điều hoà nhiệt độ bình thường của con người và tiện nghi nhiệt phụ thuộc vào nhiệt độ không khí trong nhà, bức xạ nhiệt của kết cấu bao che, độ ẩm tương đối và tốc độ gió... 

II. Quan hệ giữa khí hậu nhiệt đới và kiến trúc làng truyền thống Bắc Bộ 

2.1. Về nhà ở các dân tộc miền núi 
Nhà ở các dân tộc miền núi, tuy về chi tiết có khác nhau, song về tổng quát đều làm nhà sàn để chống ẩm, chống mưa xối vào nhà, bố trí công trình thích hợp với địa hình miền núi (ở đồi dốc hay thung lũng). 
Về giải pháp thông gió để cải thiện vi khí hậu đều áp dụng thông gió ngang (thông gió qua cửa sổ) và thông gió đứng (thông qua hai đầu hồi nhà). Đó là nét đặc sắc của nhà sàn. 
Mái nhà cóp độ dốc lớn để thoát nước mưa, lợp loại vật liệu cỏ tranh dày để chống nóng - mái chìa rộng ra để chống nắng, chống mưa hắt. Còn tường làm bằng phên tre đan đơn giản hoặc có trát thêm đất tuỳ từng nơi. 
Nói chung đây là một mô hình kiến trúc hợp lý với điều kiện khí hậu nóng ẩm. Dù đến nay có thể thay đổi kết cấu và vật liệu mới, cũng phải giữ gìn và phát triển mô hình độc đáo này vào các công trình nhà ở hiện đại, hoặc các công trình khác. Ví dụ các nhà biệt thự do Pháp xây dựng đều có hệ thống lò sưởi có ống khói cao vượt khỏi mái nhà. Về mùa đông sưởi ấm thì không khí trong nhà chuyển động theo đối lưu do nhiệt trong nhà cao hơn bên ngoài. Còn về mùa hè khi có gió xuyên phòng, thì ống khói có tác dụng hút gió làm cho lưu thông gió trong nhà tốt hơn nhiều. 
Đặc điểm chung của nhà ở dân gian vùng Tây Bắc là bố trí khuôn viên và hướng phụ thuộc vào địa hình là chính. Nhà thường làm bằng vật liệu tre gỗ, kết cấu nhà khung, sàn gỗ nâng cao lên để chống ẩm và mưa lũ. Trong nhà lấy bếp lửa sưởi ấm để chống lại khí hậu thay đổi trong ngày, mặt bằng phát triển theo cả hai chiều và thường không quây kín, có hệ thống lan can và cửa thông thoáng. 
Vị trí nhà ở thường ở lưng chừng và triền đồi thấp. Quay mặt ra thung lũng, lưng tựa vào núi, nhà ở thường quy tụ thành làng, bản quanh một vài triền đồi, gần nguồn nước và ruộng lúa nước. Như vậy nhà ở thường bố trí ở vị trí tương đối cao để tránh ngập lụt và mưa lũ, hướng nhà quay tuy theo địa hình để đón gió mát cục bộ và thông thoáng, yếu tố địa thế quyết định hướng quy hoạch và chọn vị trí ngôi nhà. 

Nhà ở 2 loại hình 
Nhà nửa sàn nửa đất, nhà sàn, nhưng chủ yếu là kiểu nhà sàn. Nhà sàn tỏ ra đặc biệt phù hợp với điều kiện sống ở vùng núi. Khuôn viên nhà có đủ quy mô bố trí nhà chính, bếp, sân vườn, ao nuôi cá, giếng nước, trồng cây ăn quả và rau xanh. Xung quanh nhà thường trồng hàng rào bằng cây cối che chắn chỉ để lại một cổng vào. 

Kiểu nhà sàn 
Nhà có hệ thống sàn gác trên cột được đưa lên cao khoảng 2m so với mặt đất. sàn nhà và nhà hầu hết đều làm bằng tre nứa. Nhà thường tổ hợp bởi hai nhà là chính và nhà phụ, ngoài ra còn có sân phơi thường ở vị trí đón được hướng nắng để phơi thóc lúa, áo quần. Sàn phơi thông với cầu thang và nhà phụ. Trong nhà chính có bếp lửa. Bếp lửa là vị trí đun nấu thức ăn và là chỗ ăn uống và sinh hoạt chung chính của gia đình và khách. Bếp lửa được đặt trong một khuôn đất và thường được bố trí ở nơi chính trong nhà, ngoài đun nấu còn có tác dụng sưởi ấm rất cần thiết cho ngôi nhà. Gian thờ cũng thường đặt thẳng với gian đặt bếp. Trong nhà các gian chức năng khác được bố trí lấy gian đặt bếp làm trung tâm dẫn đến mặt bằng nhà phát triển theo cả hai chiều. Kết cấu nhà sàn hầu hết đều làm bằng gỗ, mái lợp tranh hoặc ngói. Diện tích mái lớn nên mái thường có độ dốc vừa phải và hai đầu chái hồi mái không bịt kín để thông gió và khói bếp. Xung quanh nhà bố trí hệ thống hiên lan can rất nhiều dùng để làm nơi hóng mát, mặt ngoài nhà bố trí nhiều cửa ra ban công và cửa sổ sát xuống sàn để lấy gió thông thoáng. 
Điều đáng tiếc hiện nay do có một khái niệm sai lầm, cho nhà mái bằng mới là hiện đại và lây lan lên tận miền núi đã phá vỡ mất mô hình quý báu cần được giữ gìn phát triển. Mặt khác người ta không hiểu hết ý nghĩa đặc biệt của thông gió đầu hồi nhà, lại sợ bị mưa hắt vào nên đã thu hẹp diện tích thông gió hoặc một số nơi thì bãi bỏ hẳn, cho nên vừa phản khoa học vừa mất bản sắc kiến trúc truyền thống độc đáo Việt Nam. 

2.2. Đối với nhà ở đồng bằng 
Sản phẩm độc đáo khu ở dân cư đã liền với đồng ruộng và đất đai trồng trọt, chăn nuôi - đã tồn tại hàng ngàn năm. Xóm làng bao giờ cũng được luỹ tre bao bọc che chở để chống chọi với các yếu tố tiêu cực của thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống. Đó là tiền thân của kiến trúc sinh thái hiện đại ngày nay. 
Còn ngôi nhà bao giờ cũng đặt ở hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát về mùa hè và chống lạin gió rét mùa đông. Khuôn viên ngôi nhà bao giờ cũng gắn với sân vườn - mặt nước - hồ ao để làm mát cho không gian ở và lại kết hợp ngay với chăn nuôi trồng trọt triong khuôn viên của nhà. Từ đó đã hình thành một mô hình tổ chức độc đáo: V-A-C (vườn - ao - chuồng). 
Ngôi nhà nào cũng có mái hiên để che nắng, che mưa, chống chọi và làm không gian đệm từ sân vào nhà. Để tăng khả năng chống lại các yếu tố thời tiết thường xuyên thay đổi, trước hiên bao giờ cũng có tấm “phên”, “dại” để chống lại một cách linh hoạt có hiẹu quả nắng xói, mưa to, gió lớn theo độ che lớn nhỏ cần thiết. Còn khi thời tiết tốt, thì chống lên để thông gió theo góc độ thích hợp. 
Đầu hồi nhà bao giờ cũng có lỗ thông gió (ở miền Trung thường gọi là khu “đị”) . Còn cửa đi phía Nam đón gió mát về mùa hè thì hầu như có thể mở toàn bộ cửa mặt hướng nhà. Còn cửa phái sau thì mở ít diện tích tường để tránh gió xấu về mùa đông. Tường nhà tráy bằng đất trộn với rơm rất tốt, hoặc làm tường trình bằng đất nung, hoặc bằng gạch. Mái cũng có độ dốc lớn để thoát nước mưa. Phần lớn đều lợp bằng tranh, rơm, rạ, có nơi bên dưới trát một lớp đất sét để chống nóng đạt hiệu qủa cách nhiệt rất cao. 
Nói chung mô hình nhà ở đồnh bằng cũng có những nét độc đáo cần kế thừa và phát triển như: Quy hoạch khuôn viên luôn luôn gắn kiến trúc với cây xanh và mặt nước để tạo môi trường sống thích hợp với khí hậu, lại tạo nên mô hình chăn nuôi trồng trọt khoa học VAC. Còn về kiến trúc ngôi nhà thì tổ chức việc tận dụng gió tốt về mùa hè, và có giải pháp che nắng, che mưa linh hoạt cũng như trồng cây xanh thích hợp quanh nhà cũng là giải pháp truyền thống độc đáo. 
Điều đáng tiếc, do một số người không hiểu rõ ưu việt thông gió của đầu hồi, nên đã xây bít khu đị. Còn nếu sợ bị mưa hắt thì có biện pháp che mưa thích hợp chứ không phải vì thế mà bỏ mất một yếu tố vô cùng quý giá trong mô hình tổ chức ngôi nhà. 
Trong chương trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, một mặt vừa tận dụng các thành tựu mới về kiến trúc, xây dựng hiện đại, mặt khác cần phải kế thừa và phát huy các tinh hoa mà ông cha ta tìm tòi thể hiện trong hàng nghìn năm sinh sống dưới môi trường nhiệt đới vào việc quy hoạch thiết kế và xây dựng nông thôn mới Việt Nam. 
Với những điều kiện thời tiết trong vùng, mái là yếu tố quyết định để đảm bảo độ bèn của cấu trúc. Phần lớn nhà trong khu vực là mái ngói. Mái ngói có 2 loại: Loại thứ nhất là ngói cổ truyền, làm bằng tay với cỡ nhỏ, được xếp dày hơn để cách nhiệt (thường được xếp làm 3 lớp). Tuy nhiên chúng không chống nổi được sức bão đôi khi xuất hiện trong khu vực.Loại thứ hai được đúc sẵn, yêu cầu từ 13 đến 22 viên phủ 1m2 mái. Mái loại này được dùng từ thời kỳ Pháp thuộc. Loại này có tuổi thọ cao hơn và dễ sản xuất. 
Một số nhà có hệ thống mái hỗn hợp với phần chịu lực là một khung gỗ, thứ gỗ được gọi là “thiết mộc” (đinh, lim) và hầu như không bao giờ mục. làm mái che dày 30-40cm bằng lá, rơm rạ hoặc bằng ngói 2-3 lớp có khí lót vữa giữa các lớp để hạn chế bức xạ mặt trời trong mùa hè, tăng độ lệch pha nhiệt độ mặt trong công trình so với mặt ngoài và làm giảm biên độ giao động nhiệt ở mặt trong của công trình. 
Làm tường bao che linh hoạt ở phía Nam bằng cửa lùa, tấm phên, dại... mở nhiều cửa ở phía Đông và Nam để tạo ra luồng gió thay đổi không khí trong nhà về mùa đông. 
Làm hiên trước nhà chống nắng hắt và hạ nhiệt độ luồng gió thổi vào nhà. các công trình phụ như bếp, vệ sinh, chuồng trại thường được đặt ở phía Tây và Tây Bắc để hạn chế đáng kể bức xạ trực tiếp của mặt trời lên bề mặt kết cấu bao che cuả khối nhà chính. 
Đào ao và trồng cây khuôn viên làm giảm nhiệt độ không khí. 
Phần lớn nhà trồng cây thấp có lá to ở phía Bắc nhằm hạn chế tác động trực tiếp của gió mùa Đông Bắc lên công trình. Ngoài ra còn mở ít cửa ở phía Bắc để hạn chế gió lạnh lùa vào nhà nhưng vẫn đảm bảo sự thay đổi không khí ở mức cần thiết; còn ở phía Nam nhà được mở nhiều cửa, trồng cây thân cao và làm mái hiên thấp nhằm tạo điều kiện cho gió mùa Đông Nam dễ dàng thổi vào nhà, tạo khe gió thúc đẩy đối lưu. Vì thế đã có câu: Chuối đằng sau, cau đằng trước. 
Đối với nhà ở nội thành gió được chú ý khai thác để tạo ra môi trường vi ohí hậu thông thoáng với hệ mái chồng diêm, các sân trong, các cửa phòng mở rộng và đối diện nhau tạo nên gió xuyên phòng, đôi khi bằng cả bố cục hình khối với các nhà cao thấp khác nhau không làm che gió tốt mùa hè (gió Đông Nam). 
Độ ẩm tương đối cao nên tường nhà thường được đắp đất với vữa sét, đó là vật liệu có hả năng hút ẩm để điều chỉnh. 
Tóm lại, dấu ấn đặc sắc của kiến trúc làng truyền thống Bắc Bộ trong mối quan hệ với kiểu nhiệt đới tập trung ở các điểm sau: 
1. Khu làng truyền thống được bao bọc bởi một hệ thống cây xanh từ luỹ tre làng bên ngoài cho đến hệ thống cây xanh bên trong tạo nên một làng sinh thái độc đáo bảo vệ con người khỏi khí hậu khắc nghiệt, bảo đảm mát mẻ về mùa hè và ấm áp về mùa đông. 
2. Trong quy hoạch của xóm làng nói chung và khuôn viên từng nhà nói riêng đều bố trí kiến trúc gắn bó với cây xanh và mặt nước để cải tiến môi trường vi khí hậu và hình thành một mô hình V-A-C độc đáo của Việt Nam. 
3. Tất cả các nhà đều quay về hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát về mùa hè và tránh gió rét về mùa đông. Cửa phía Nam tất cả đều được mở rộng để đón gió, còn phía Bắc cócửa nhỏ để lấy ánh sáng. 
4. Mặt bằng ngôi nhà bố trí hợp lý có nhà chính, nhà phụ. Nhà có mái hiên làm không gian chuyển tiếp giữa bên trong và bên ngoài nhà trước mặt nhà có tấm phê dại để che nắng,che mưa một cách linh hoạt để thích ứng với thời tiết luôn biến động. 
5. Mái nhà có thể lợp bằng ngói hoặc bằng rơm rạ, cỏ tranh... với độ dày thích hợp để cách nhiệt, chống thấm và có độ dốc cao để thoát nước tốt, đồng thời cócấu tạo thích hợp bền chắc để chống được mưa to gió lớn; 
6. Tất cả các nhà đều có sân làm không gian tổ hợp khuôn viên nhà vừa dùng làm nơi phơi phóng vè ban ngày vừa dùng để sinh hoạt gia đình ngắm trăng, hóng gió mát về ban đêm làm phong phú thêm cho không gian kiến trúc. 
Qua phân tích chi tiết ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới đối với kiến trúc truyền thống làng Bắc Bộ càng thấy rõ ông cha ta đã giải quyết một cách tài tình mối quan hệ giữa khí hậu và kiến trúc, đã sáng tạo nên các giải pháp kiến trúc quy hoạch hợp lý gắn bó với môi trường thiên nhiên, tạo nên vi khí hậu tiện nghi cho con người. Chính đó là tài sản quý báu mà chúng ta cần kế thừa và phát triển trong việc xây dựng nền kiến trúc hiện đại và đậm đà bản sắc Việt Nam.

Nhận xét & Thảo luận